Không chỉ là căng thẳng: Trầm cảm và lo âu thay đổi não bộ ra sao
Nếu quý vị từng bị nói rằng trầm cảm hay lo âu là “chẳng có gì”, rằng quý vị phản ứng thái quá, hoặc rằng chỉ cần nghĩ tích cực lên, bài viết này dành cho quý vị. Hàng chục năm nghiên cứu về não bộ kể một câu chuyện rất khác.
Trầm cảm và lo âu không phải dấu hiệu của sự yếu đuối hay thái độ tiêu cực. Đó là những tình trạng y khoa thật sự, đi kèm những thay đổi vật lý đo lường được trong não. Và hiểu những thay đổi đó giải thích một điều khiến hầu như ai bắt đầu điều trị cũng bực bội: vì sao thuốc chống trầm cảm cần nhiều tuần, chứ không phải vài ngày, mới có tác dụng.
Trầm cảm có thật sự thay đổi não bộ không?
Có. Khi căng thẳng, trầm cảm hoặc lo âu kéo dài, não không giữ nguyên như cũ. Các nghiên cứu chụp hình não ở người, cùng với nghiên cứu trong phòng thí nghiệm, cho thấy những thay đổi thật sự ở các vùng điều khiển khí sắc, trí nhớ và cảm xúc.
Những vùng não nào bị ảnh hưởng?
Ba vùng chịu phần lớn thay đổi, và mỗi vùng tương ứng với một triệu chứng quý vị có thể cảm nhận được.
| Vùng não | Chức năng | Căng thẳng làm gì | Cảm giác thực tế | Có hồi phục được không? |
|---|---|---|---|---|
| Vỏ não trước trán | Đài chỉ huy phía sau trán | Mỏng đi, các kết nối yếu hơn | Khó tập trung, khó quyết định, khó tự trấn tĩnh | Có, một phần. Ảnh chụp sau khi hồi phục kiệt sức cho thấy độ mỏng trở lại bình thường |
| Hồi hải mã | Trí nhớ và điều hòa căng thẳng | Thể tích nhỏ hơn, ít tế bào thần kinh mới | Hay quên, kém kiểm soát căng thẳng | Có, một phần. Tế bào có thể mọc lại nhánh sau khi căng thẳng chấm dứt |
| Hạch hạnh nhân | Hệ thống báo động của não | Hoạt động quá mức, đôi khi to ra | Lo lắng, bất an, luôn cảnh giác | Có. Các mẫu hoạt động thiết lập lại sau khi hồi phục |
| Khớp thần kinh khắp não | Hệ dây nối giữa các tế bào | Bị tỉa bớt khi BDNF giảm | Mọi thứ nặng nề hơn, phẳng lặng, mờ mịt | Có. Thuốc chống trầm cảm làm tăng BDNF và khớp thần kinh mọc lại trong 3 đến 5 tuần |
- Hồi hải mã là trung tâm trí nhớ và điều hòa căng thẳng. Trầm cảm và căng thẳng kéo dài liên quan đến hồi hải mã nhỏ hơn, và một số nghiên cứu cho thấy trầm cảm càng lâu không được điều trị thì mức teo càng nhiều.
- Vỏ não trước trán là đài chỉ huy phía sau trán, phụ trách sự tập trung, ra quyết định và làm dịu những cảm xúc mạnh. Căng thẳng kéo dài có thể làm vùng này mỏng đi và làm yếu các kết nối, một phần lý do khiến việc tập trung hay tự trấn tĩnh trở nên rất khó khi quý vị đang trầm cảm.
- Hạch hạnh nhân là hệ thống báo động của não trước nỗi sợ và mối đe dọa. Dưới căng thẳng kéo dài, nó có thể hoạt động quá mức và to ra, giúp giải thích nỗi lo thường trực, cảm giác bất an và trạng thái luôn cảnh giác của lo âu.
Điều gì xảy ra ở cấp độ tế bào?
Hãy hình dung một tế bào não khỏe mạnh như một cái cây với nhiều nhánh, gọi là sợi nhánh, nối tới hàng nghìn tế bào lân cận. Những kết nối đó là khớp thần kinh, và khả năng não phát triển và tái định hình chúng gọi là tính mềm dẻo thần kinh, tức sinh học của việc học hỏi, thích nghi và hồi phục.
Căng thẳng kéo dài và trầm cảm đi ngược lại điều này. Nồng độ cao kéo dài của hóc môn căng thẳng cortisol, cùng với tình trạng viêm và sự sụt giảm của một protein tăng trưởng quan trọng tên là BDNF, khiến tế bào não ở hồi hải mã và vỏ não trước trán mất nhánh và rụng bớt khớp thần kinh. Cái cây bị tỉa bớt.
Nói cách khác, trầm cảm và lo âu kéo dài bào mòn hệ dây nối của não theo nghĩa đen. Đây không phải ẩn dụ. Đó là một trong những phát hiện nhất quán nhất của tâm thần học hiện đại, và chính là lý do câu “vui lên đi” chưa bao giờ là một lời khuyên thật sự.
Vì sao thuốc chống trầm cảm lâu có tác dụng?
Vì thuốc không đơn giản chỉ bù thêm một chất hóa học. Thuốc đang từ từ giúp não xây lại những kết nối mà căng thẳng kéo dài đã phá đi, và xây lại thì lâu hơn phá đi.
Đây là phần khiến người ta ngạc nhiên nhất. Khi uống thuốc chống trầm cảm, nồng độ các chất hóa học trong não tăng trong vòng vài giờ đến vài ngày. Vậy vì sao thường phải bốn đến sáu tuần hoặc lâu hơn quý vị mới thấy khá lên? Câu trả lời là tính mềm dẻo thần kinh:
- Hóa học thay đổi nhanh. Trong vài ngày, thuốc làm tăng lượng các chất hóa học liên quan đến khí sắc.
- Việc xây lại cần thời gian. Trong những tuần sau đó, các thuốc này làm tăng BDNF và kích hoạt lại một trạng thái linh hoạt, mềm dẻo hơn trong não người lớn, về cơ bản là mở lại khả năng tự nối dây của não.
- Các kết nối mới phải mọc lên. Não phải mọc lại các khớp thần kinh đã mất và củng cố mạch ở vỏ não trước trán và hồi hải mã. Ở người tình nguyện khỏe mạnh, một thử nghiệm ngẫu nhiên dùng ảnh chụp não cho thấy một thuốc chống trầm cảm phổ biến làm tăng dần dấu ấn mật độ khớp thần kinh trong ba đến năm tuần, khớp đúng về mặt sinh học với độ trễ mà người bệnh cảm nhận.
Vậy nên khoảng thời gian chờ đợi không phải là thuốc thất bại. Theo đúng nghĩa, thuốc đang đảo ngược những thay đổi mềm dẻo mà trầm cảm và lo âu kéo dài đã tạo ra. Đó cũng là lý do việc ngưng thuốc quá sớm, trước khi quá trình nối dây hoàn tất, rất hay dẫn đến tái phát.
Não có thể lành lại không?
Có, và đây có thể là thông điệp quan trọng nhất. Nhiều thay đổi não liên quan đến căng thẳng ít nhất có thể hồi phục một phần.
- Ở những người hồi phục sau kiệt sức do công việc, ảnh chụp não theo dõi cho thấy một số thay đổi cấu trúc, như độ mỏng của vỏ não trước trán, trở lại bình thường theo thời gian khi căng thẳng giảm.
- Các nghiên cứu về mạng lưới não cho thấy các mẫu hoạt động của não có thể thiết lập lại theo hướng khỏe mạnh sau khi hồi phục từ căng thẳng kéo dài.
- Nghiên cứu trong phòng thí nghiệm xác nhận rằng sau khi giai đoạn căng thẳng kết thúc, tế bào não ở hồi hải mã có thể mọc lại những nhánh đã mất.
Não không phải cỗ máy cứ thế hỏng. Đó là một cơ quan sống, có khả năng thích nghi, và với điều trị đúng cùng thời gian, nó có thể xây lại.
Điều này có ý nghĩa gì với quý vị
- Trầm cảm và lo âu là bệnh thật, mang tính thể chất, thật như tiểu đường hay cao huyết áp. Chúng xứng đáng được điều trị thật sự.
- Độ trễ trước khi thuốc phát huy là bình thường và được dự đoán trước. Nó phản ánh việc não đang nối dây lại. Hãy cho điều trị đủ số tuần cần thiết, và đừng tự ý ngưng đột ngột.
- Hồi phục là điều có thật. Chính tính mềm dẻo đã cho phép căng thẳng làm tổn hại não cũng là thứ cho phép não lành lại.
- Điều trị không chỉ là thuốc. Trị liệu, vận động, giấc ngủ chất lượng và giảm căng thẳng kéo dài đều hỗ trợ cùng một quá trình xây lại đó.
Nếu quý vị đang gặp khó khăn, hãy trao đổi với bác sĩ hoặc chuyên gia sức khỏe tâm thần. Và nếu quý vị đang chờ thuốc phát huy tác dụng, hãy biết điều này: một điều có thật đang diễn ra trong não quý vị, ngay cả vào những ngày quý vị chưa cảm nhận được.
Đang chờ điều trị phát huy tác dụng?
Alice Tran, PMHNP-BC, cung cấp dịch vụ khám tâm thần, quản lý thuốc và trị liệu hỗ trợ, trực tiếp tại Fairfax và qua telehealth khắp Virginia, bằng tiếng Anh và tiếng Việt. Không cần giấy giới thiệu.
Đặt lịch tư vấnNguồn tham khảo
- Belleau EL, Treadway MT, Pizzagalli DA. The Impact of Stress and Major Depressive Disorder on Hippocampal and Medial Prefrontal Cortex Morphology. Biological Psychiatry. 2019. View
- Lupien SJ, Juster RP, Raymond C, Marin MF. The Effects of Chronic Stress on the Human Brain: From Neurotoxicity, to Vulnerability, to Opportunity. Frontiers in Neuroendocrinology. 2018. View
- Harmer CJ, Duman RS, Cowen PJ. How Do Antidepressants Work? New Perspectives for Refining Future Treatment Approaches. The Lancet Psychiatry. 2017. View
- Castrén E. Neuronal Network Plasticity and Recovery From Depression. JAMA Psychiatry. 2013. View
- Rantamäki T, Yalcin I. Antidepressant Drug Action: From Rapid Changes on Network Function to Network Rewiring. Progress in Neuro-Psychopharmacology & Biological Psychiatry. 2016. View
- Johansen A, Armand S, Plavén-Sigray P, et al. Effects of Escitalopram on Synaptic Density in the Healthy Human Brain: A Randomized Controlled Trial. Molecular Psychiatry. 2023. View
- Savic I, Perski A, Osika W. MRI Shows That Exhaustion Syndrome Due to Chronic Occupational Stress Is Associated With Partially Reversible Cerebral Changes. Cerebral Cortex. 2018. View
- Soares JM, Sampaio A, Marques P, et al. Plasticity of Resting State Brain Networks in Recovery From Stress. Frontiers in Human Neuroscience. 2014. View
- Ortiz JB, Conrad CD. The Impact From the Aftermath of Chronic Stress on Hippocampal Structure and Function: Is There a Recovery? Frontiers in Neuroendocrinology. 2018. View
- Vyas S, Rodrigues AJ, Silva JM, et al. Chronic Stress and Glucocorticoids: From Neuronal Plasticity to Neurodegeneration. Neural Plasticity. 2016. View
- Enneking V, Leehr EJ, Dannlowski U, Redlich R. Brain Structural Effects of Treatments for Depression and Biomarkers of Response: A Systematic Review of Neuroimaging Studies. Psychological Medicine. 2020. View
- Lee KH, Shin J, Lee J, et al. Measures of Connectivity and Dorsolateral Prefrontal Cortex Volumes and Depressive Symptoms Following Treatment With SSRIs in Adolescents. JAMA Network Open. 2023. View
- Guo H, Zheng L, Xu H, et al. Neurobiological Links Between Stress, Brain Injury, and Disease. Oxidative Medicine and Cellular Longevity. 2021. View
- Frodl TS, Koutsouleris N, Bottlender R, et al. Depression-Related Variation in Brain Morphology Over 3 Years: Effects of Stress? Archives of General Psychiatry. 2008. View
Tuyên bố miễn trừ y khoa
Thông tin trong bài viết này chỉ nhằm mục đích giáo dục và không phải là lời khuyên y khoa. Những thay đổi não mô tả ở đây là kết quả nghiên cứu trên nhóm và không thể dùng để chẩn đoán cho từng cá nhân. Đừng bắt đầu, ngưng hay thay đổi thuốc tâm thần mà không trao đổi với người kê đơn, vì ngưng quá sớm là nguyên nhân phổ biến gây tái phát. Chỉ chuyên gia có giấy phép mới có thể chẩn đoán và điều trị chính xác các tình trạng tâm thần.
Anh Tran (Alice), PMHNP-BC, FNP-BC
Dual Board-Certified Family and Psychiatric Nurse Practitioner
Alice is a dual board-certified PMHNP and FNP licensed in Virginia, trained under psychiatrist Dr. Errol Segall, MD (50+ years of experience). She treats ADHD, anxiety, depression, and more, in person in Fairfax and via telehealth across Virginia, in English and Vietnamese. Learn more →