Vì sao nhiều người lớn phát hiện mình có ADHD ở tuổi 30, 40 hay 50
Trong nhiều thập kỷ, ADHD từng được xem là rối loạn của tuổi thơ, thứ mà trẻ con rồi sẽ "hết" khi lớn lên. Nhưng ngày càng nhiều người lớn ở tuổi 30, 40, thậm chí 50 đang được chẩn đoán lần đầu. Đây không phải là trào lưu hay mốt nhất thời. Nó phản ánh sự hội tụ của những điểm mù trong quá khứ, khoa học không ngừng tiến bộ, và một thực tế: cuộc sống luôn có cách phơi bày những gì vốn vẫn luôn ở đó.
Dưới đây là lý do vì sao đến bây giờ nhiều người lớn mới biết mình có ADHD.
Với Các Thế Hệ Trước, ADHD Gần Như Không Được Nhắc Đến
Nếu bạn sinh trước năm 1980, cơ hội được đánh giá ADHD khi còn nhỏ là rất thấp. Nhận thức của cộng đồng còn hạn chế, và nhiều cha mẹ từ chối cho con đi đánh giá vì quan niệm về bệnh tâm thần hoặc lo ngại điều tiếng. Chính giới y khoa cũng từng xem ADHD là thứ sẽ tự hết khi đến tuổi thiếu niên. Mãi đến tương đối gần đây, nghiên cứu mới xác nhận ADHD kéo dài đến tuổi trưởng thành ở một số lượng đáng kể các trường hợp, với tỷ lệ hiện mắc ước tính ở người lớn trên toàn thế giới khoảng 2,5%.
Ngay cả cẩm nang chẩn đoán cũng mất rất lâu mới bắt kịp. DSM chỉ bắt đầu đưa vào các ví dụ triệu chứng dành riêng cho người lớn từ phiên bản thứ năm, và tuổi khởi phát bắt buộc được nới từ "trước 7 tuổi" thành "trước 12 tuổi", một thay đổi giúp người lớn dễ đáp ứng tiêu chuẩn chẩn đoán hơn, dù vẫn chưa hoàn hảo.
Nghệ Thuật "Vẫn Xoay Xở Được": ADHD Tuổi Thơ Bị Che Lấp Thế Nào
Nhiều người lớn nhận chẩn đoán muộn không hề "sạch" triệu chứng khi còn nhỏ. Họ chỉ được bù trừ. Nghiên cứu đã xác định một số yếu tố có thể che giấu ADHD một cách hiệu quả trong thời thơ ấu:
Môi trường nâng đỡ. Trường lớp có kỷ luật chặt chẽ, cha mẹ sát sao, và việc được học kèm có thể "đỡ" một đứa trẻ đi qua những năm học, ngăn không cho sự suy giảm chức năng bộc lộ đến mức phải đi khám.
Năng lực nhận thức cao. Trẻ có trí thông minh hoặc tốc độ xử lý trên trung bình cần ít thời gian hơn để học và có thể tiếp thu bài dù thiếu chú ý. Chúng đạt điểm tốt, nên không ai đặt câu hỏi.
Thể dạng thầm lặng. ADHD có nhiều "phiên bản" khác nhau. Thể thiên về giảm chú ý (đứa trẻ hay mơ màng, chứ không phải đứa trẻ quậy phá) lọt khỏi tầm radar. Những đứa trẻ này không gây rắc rối trong lớp, nên giáo viên không để ý đến chúng.
Kết quả? Một đứa trẻ về bản chất có ADHD nhưng chưa bao giờ trông giống như vậy, cho đến khi những giàn giáo nâng đỡ sụp xuống.
Khi Cuộc Sống Khó Hơn, Lớp Mặt Nạ Rơi Xuống
Có lý do khiến rất nhiều người được chẩn đoán trong những bước ngoặt lớn của cuộc đời. Rời khỏi môi trường học đường có cấu trúc, bắt đầu một sự nghiệp đòi hỏi cao, quán xuyến gia đình, nuôi dạy con cái, những cột mốc này tước đi các chỗ dựa bên ngoài từng bù trừ cho sự rối loạn chức năng điều hành.
Đột nhiên, người "hay làm mất đồ" hay "vốn không phải típ người biết lên kế hoạch" chìm ngập trong deadline bị lỡ, cuộc hẹn bị quên, và sự bất lực trong việc cân bằng những đòi hỏi chồng chéo của đời sống người lớn. Triệu chứng vẫn luôn ở đó. Chỉ là các đòi hỏi cuối cùng đã vượt quá khả năng ứng phó.
Biểu hiện ở người lớn cũng khác với hình mẫu đứa trẻ hiếu động. Sự tăng động có xu hướng giảm dần theo tuổi và thay vào đó biểu hiện thành sự bồn chồn bên trong, trong khi sự thiếu chú ý kéo dài và trở thành nguồn suy giảm chức năng chủ đạo.
Khoảng Cách Giới: Vì Sao Phụ Nữ Được Chẩn Đoán Muộn Hơn
Ở tuổi thơ, bé trai được chẩn đoán ADHD nhiều hơn bé gái ít nhất bốn lần. Nhưng trong các mẫu lâm sàng người lớn, tỷ lệ này tiến gần 1:1. Sự chuyển dịch ngoạn mục đó kể một câu chuyện quan trọng.
Bé gái có ADHD thường biểu hiện thể giảm chú ý: ít quậy phá hơn, ít bị nhìn thấy hơn, ít được giới thiệu đi đánh giá hơn. Các em nội tâm hóa những chật vật của mình, phát triển lo âu và trầm cảm có khi được điều trị suốt nhiều năm mà không ai nhận diện ADHD nằm bên dưới. Chỉ đến tuổi trưởng thành, thường là sau khi con mình được chẩn đoán khiến họ tự soi lại, nhiều phụ nữ mới cuối cùng nối được các mảnh ghép.
ADHD "Khởi Phát Muộn" Có Thật Không?
Đây là một trong những câu hỏi thú vị và gây tranh luận nhất trong lĩnh vực này. Các nghiên cứu theo dõi dài hạn mang tính bước ngoặt, bao gồm nghiên cứu song sinh E-Risk và đoàn hệ Dunedin, cho thấy phần lớn người lớn đáp ứng tiêu chuẩn ADHD ở tuổi 18 đến 38 đã không đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn chẩn đoán khi còn nhỏ.
Ba cách giải thích đã được đưa ra:
Bị che lấp. Cùng một nền tảng phát triển thần kinh vẫn hiện diện nhưng bị che khuất bởi các yếu tố bảo vệ như trí thông minh, sự hỗ trợ của gia đình, hay một môi trường có cấu trúc.
Quy nhầm nguyên nhân. Các triệu chứng giống ADHD ở tuổi trưởng thành thực ra do các tình trạng đi kèm gây ra, như lo âu, trầm cảm, sử dụng chất, hay rối loạn giấc ngủ, chứ không phải ADHD thật sự.
Một rối loạn riêng biệt. ADHD khởi phát muộn có thể là một tình trạng thực sự khác, với cơ cấu giới tính khác và tính di truyền thấp hơn ADHD khởi phát từ tuổi thơ.
Bằng chứng hiện tại cho thấy phần lớn các trường hợp khởi phát muộn đều có ít nhất một số triệu chứng thời thơ ấu hoặc hành vi hướng ngoại, với khởi phát thường xảy ra trong khoảng 12 đến 16 tuổi. Nhưng dữ liệu kéo dài đến tuổi trưởng thành lớn hơn vẫn còn hạn chế, và đây vẫn là một lĩnh vực nghiên cứu đang tiếp diễn.
Vấn Đề Bệnh Đồng Mắc
Việc chẩn đoán ADHD ở người lớn phức tạp bởi thực tế nó hiếm khi đi một mình. Lo âu, trầm cảm và các rối loạn sử dụng chất đều rất phổ biến ở người lớn có ADHD, và tất cả đều vừa có thể bắt chước vừa có thể che khuất triệu chứng ADHD.
Một người có thể được điều trị trầm cảm nhiều năm mà không cải thiện, không nhận ra rằng vấn đề gốc rễ là ADHD chưa được điều trị đang gây ra sự kém hiệu quả kinh niên và nỗi bực bội. Hoặc một người lớn có thể quy toàn bộ vấn đề tập trung của mình cho lo âu, không bao giờ nghĩ rằng chính lo âu ấy là hệ quả xuôi dòng của ADHD không được kiểm soát.
Thách Thức Với Người Lớn Tuổi
Với người trên 50 tuổi, việc chẩn đoán mang những thách thức riêng. Yêu cầu chẩn đoán tiêu chuẩn, chứng minh triệu chứng đã có từ thời thơ ấu, trở nên gần như bất khả thi khi cha mẹ đã qua đời, học bạ thất lạc, và hàng thập kỷ ký ức khiến việc tự hồi tưởng không còn đáng tin.
Vậy nhưng nghiên cứu cho thấy khoảng 3% người từ 50 tuổi trở lên trải qua các triệu chứng ADHD đáng kể. Với những người này, con đường đến chẩn đoán đòi hỏi các nhà lâm sàng sẵn sàng suy nghĩ linh hoạt về bằng chứng bổ trợ và hiểu rằng việc thiếu ghi nhận triệu chứng thời thơ ấu không nhất thiết có nghĩa là thời thơ ấu không có ADHD.
Điều Cốt Lõi
Chẩn đoán ADHD muộn ở người lớn không phải là chuyện một rối loạn đột nhiên xuất hiện. Đó là chuyện một rối loạn vốn vẫn luôn ở đó, bị che khuất bởi trí thông minh, sự nề nếp, môi trường nâng đỡ, thiên kiến giới, và một giới y khoa mất hàng thập kỷ mới công nhận rằng ADHD không kết thúc ở tuổi dậy thì.
Nếu bạn là một người lớn luôn cảm thấy mình phải làm việc gấp đôi người khác chỉ để theo kịp, luôn chật vật với việc sắp xếp, tập trung và theo đuổi mọi thứ đến cùng dù được khen là "thông minh thế cơ mà", thì bạn không lười biếng, và bạn không hỏng hóc. Có thể bạn chỉ đang có một câu trả lời đã chờ rất lâu để được tìm thấy.
Xem Thêm
Đang tìm chẩn đoán ADHD muộn ở tuổi trưởng thành?
Alice Tran, PMHNP-BC, cung cấp dịch vụ đánh giá ADHD người lớn qua telehealth trên toàn Virginia. Không cần giấy giới thiệu. Nhận hầu hết các gói bảo hiểm.
Đặt lịch đánh giáNguồn tham khảo
- Kessler RC, et al. "The prevalence and correlates of adult ADHD in the United States." American Journal of Psychiatry, 2006.
- Faraone SV, et al. "The World Federation of ADHD International Consensus Statement." Neuroscience & Biobehavioral Reviews, 2021.
- National Institute of Mental Health: Attention-Deficit/Hyperactivity Disorder. www.nimh.nih.gov
- Centers for Disease Control and Prevention: ADHD. www.cdc.gov
Anh Tran (Alice), PMHNP-BC, FNP-BC
Thạc Sĩ Điều Dưỡng Chuyên Khoa Gia Đình & Tâm Thần
Alice là điều dưỡng chuyên khoa với chứng nhận kép PMHNP và FNP tại Virginia, được đào tạo dưới bác sĩ tâm thần Errol Segall, MD (hơn 50 năm kinh nghiệm). Cô điều trị ADHD, lo âu, trầm cảm và nhiều tình trạng khác, trực tiếp tại Fairfax và qua telehealth trên toàn Virginia, bằng tiếng Anh và tiếng Việt. Tìm hiểu thêm →